15:04 ICT Thứ ba, 21/11/2017

DANH MỤC

LIÊN KẾT WEBSITE

VIDEO

Loading the player...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 23


Hôm nayHôm nay : 90

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 2648

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 104436

Trang nhất » Tin Tức » Tài nguyên » Những bài văn hay

Truyện ngắn: Đứa con của làng

Thứ bảy - 21/03/2015 17:10
Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ, cậu ở với ông bà ngoại. Tháng 6 năm 1967, sau lần đế quốc Mỹ ném bom đốt cháy làng, mẹ cậu bị chết cùng với nhiều người trong thôn bởi đợt bom bi. Cả làng cháy rụi, từ chiều hôm đó dân tình phải sơ tán mãi tận
                                                ĐỨA CON CỦA LÀNG                                  
                                                                                Truyện ngắn
 
            Ngày nào cũng vậy, cứ mờ sáng và đầu chiều cả làng ai cũng thấy Hạnh mang cái bao tải trên lưng . Chẳng biết cậu đi đâu mà cứ gần trưa hoặc tối cậu mới về, chẳng biết trong túi có những gì mà hôm nào trông nét mặt cậu cũng hớn hở. Thương cậu hoàn cảnh nên cứ gần trưa hoặc tối bà con ai cũng gọi cậu vô nhà cùng gia đình ăn bữa. Thời buổi đói kém, tuy bữa ăn không cao lương mỹ vị nhưng làng xóm đối xử như vây với cậu là tốt lắm rồi. Không biết cậu học được cách giao tiếp ở đâu mà cứ mỗi lần ra về Hạnh chào các gia đình kèm theo lời cảm ơn rất lễ phép. Chính vì lẽ đó mà ai cũng quý cậu không khác chi con đẻ của họ.
           Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ, cậu ở với ông bà ngoại. Tháng 6 năm 1967, sau lần đế quốc Mỹ ném bom đốt cháy làng, mẹ cậu bị chết cùng với nhiều người trong thôn bởi đợt bom bi. Cả làng cháy rụi, từ chiều hôm đó dân tình phải sơ tán mãi tận cánh đồng cách làng hơn 1km, nhà nhà cha nào con nấy nằm giữa sương gió cho mãi tận tới sáng. Đây là lần đầu tiên làng bị giặc ném bom nên hình như nhà nào cũng chịu chung một số phận chẳng mấy hộ tránh khỏi tang tóc đau thương. Cũng chính vì lí do ấy mà hàng năm cứ đến ngày 21 tháng 5 xã nhà không mấy nhà sót giỗ. Hạnh là đứa trẻ bị thiệt thòi hơn cả vì cách mấy ngày sau đó khoảng 11 giờ đêm, máy bay Mỹ thả pháo sáng đồng thời  rải một loạt bom kèm theo cả bom bi và bom nổ chậm. Cha Hạnh lúc này là lực lượng dân quân tự vệ nên tuy vợ mới mất nhưng cũng không tránh khỏi trách nhiệm Đảng giao phó. Ngoài việc khâm liệm, chôn cất những người đã mất anh còn phải trực gác phòng không vào suốt đêm, ban ngày cùng với lực lượng Đoàn viên trong xã cắm tiêu vào những quả bom chưa nổ. Công việc túi bụi buộc Hạnh phải ở cùng ông bà ngoại và xóm làng. Trong những năm chiến tranh ác liệt, mỗi căn hầm chật chội phải chứa tới hàng chục người bởi lí do một lần đang đêm, giặc ném bom đúng căn hầm gia đình ông Đa. Như vậy là tấ cả mọi người đều chết. Cái chết thảm khốc đến nỗi không có một ai nguyên vẹn. May hôm đó còn lại thằng Út sang học và ngủ tại nhà bạn nên sống sót mà nối dõi tông đường. Hạnh cũng không khác hoàn cảnh Út bởi sau một lần cha cậu cùng mấy dân quân tự vệ và công binh rà phá bom nổ chậm cũng bị hy sinh. Mẹ mất nỗi đau khổ chưa dứt, cậu phải chịu sự mất mát lớn nhất trong cuộc đời khi không còn nơi nương dựa. Ông bà ngoại tuy còn nhưng tuổi đã quá cao, phần thương con thương cháu nên sức khoẻ cũng tàn lụi dần theo năm tháng. Cũng từ đây, Hạnh và Út được coi như là những đứa con của làng.
         Năm 1972, sau khi hiệp định Giơ ne vơ được kí kết. Người Mỹ rút khỏi Việt Nam cũng là lúc hoà bình được lập lại trên miền Bắc. Hạnh cũng như Út đều đến tuổi đi học, hầu như bọn trẻ cùng trang lứa đều được cắp sách tới trường. Út khác hơn Hạnh ở chổ anh em còn đông nên được nuôi ăn học, chỉ có mình Hạnh là phải bươn chải kiếm sống mặc tuổi đời còn nhỏ. Nhiều lúc thương cháu hai ông bà có ý xin cho em đi học nhưng Hạnh từ chối vì chuyện đi học không phải dễ dàng nên ông bà đành phải chiều ý cháu tuy mỗi khi nhìn thấy đám trẻ đi học về dịch vần ê a ngắc ngứ là cả hai ông bà đều ứa nước mắt nhưng đành cam phận.
       Tuy không trực tiếp đến lớp như bao bạn bè cùng tuổi nhưng Hạnh vẫn luôn nghĩ đến công việc học tập. Đêm đến, cứ cơm nước xong, cậu tất tưởi sang nhà bên xem thằng Út học bài. Không được tai nghe mắt thấy lời thầy giảng nhưng Hạnh nhận biết con chữ, con số không kém những đứa được mang sách đến trường. Rồi một hôm rỗi việc, sáng ra Hạnh theo thằng Út đến lớp vỡ lòng đầu xóm. Hồi ấy lớp vỡ lòng còn gọi là lớp ấu trĩ chưa học tập trung. Cứ mỗi thôn có một lớp làm bằng tranh tre nứa lá. trước đây là lớp học của các lớp cấp 1. Sau hoà bình lập lại mỗi xã đã cố một trường cấp 1,2 nên các lán học thời sơ tán giành cho các lớp vỡ lòng. Kẻng vào học, không có bạn chơi với, Hạnh nấp sau vách nứa xem thầy giáo giảng mãi đến lúc ra chơi vì cậu sợ thấy giáo mắng nên phải chạy nấp sau lũy tre cuối làng.
           Một lần, thầy An đang hướng dẫn học sinh tập viết, khi xuống lớp thầy bắt gặp Hạnh sau vách nứa, không thể chạy thoát cho dù rất sợ hãi nên Hạnh đứng như trời trồng. Sau khi hỏi thăm qua quýt một vài lời, thầy An phải vào lớp theo công việc nhưng vì sợ quá nên Hạnh đã lẫn về cuối xóm cho dù hình ảnh cậu đang nằm trong tiềm thức của thầy An và đám bạn bè . Trước khi cho học sinh về, thầy An lên tiếng hỏi trổng:
          -  Các em biết bạn trai vừa gặp tôi lúc ra chơi con nhà ai trong xóm?
       Thầy An hỏi chưa hết câu , thằng Út đã bẻm mép
          - Thưa thầy, thằng cu Hạnh ở gần nhà dì cháu ạ. Nó không còn cha mẹ nên đang ở với ông bà ngoại. Tối nào, Hạnh cũng sang nhà em hỏi xem ngày hôm nay học những gì. Nghe Út nói, tim thầy An thắt lại phần vì thương hoàn cảnh Hạnh, phần vì lo cho số phận của một con người nhưng với hoàn cảnh trước mắt thầy đành im lặng tìm cơ hội giúp đỡ.
         - Một buổi chiều đầu đông hoàng hôn vừa bao phủ xuống xóm làng. Trên nóc mấy ngôi nhà tranh đã phủ một màu khói bàng bạc trắng, gió nhẹ nâng làn khói trắng mờ ảo lan toả vào không gian. Trời se lạnh, cái rét đầu mùa chưa đủ để mọi người mang áo ấm nên đã gần sáu giờ tối mà trên đường về làng vẫn lác đác bóng một vài thôn nữ. Họ vừa đi vừa nói chuyện như để trút đi gánh nặng sau buổi chiều làm việc mệt nhọc trên cánh đồng làng quê trù phú. Đã vài năm nay, xã nhà đạt hợp tác xã năm tấn nên đời sống dân tình cũng có phần no đủ. Tuy vậy, gia đình ông bà  Hạnh vẫn còn nhiều vất vả bởi cả hai đều già yếu mất sức lao động. Cuộc sống thường ngày dựa vào vài ba cái rá, cái rổ mà chính tay ông ngoại đan cho bà đi chợ bán. Trong hoàn cảnh ấy, Hạnh không phải là người hoàn toàn sống dựa vào sức lực của ông bà. Hàng ngày, cậu lăn lộn trên các cánh đồng vào mùa gặt, ngày nông nhàn Hạnh lên các nương rẫy  cuốc xới tìm củ khoai, củ sắn bà con để sót trên nương. Thương cho hoàn cảnh côi cút, nhiều người đã chia sẻ cho cậu từng củ khoai củ sắn trong lúc họ cũng chưa có dư thừa. Vì vậy cuộc sống thường ngày của ông bà Hạnh cũng có phần đỡ vất vả.
       - Ông bà đã chuẩn bị bữa tối chưa - Tiếng thầy An đứng giữa sân vọng vào làm bà cụ giật mình. Tưởng có  khách lạ, ông cụ vội vàng  bước ra sân .
      Vừa dến bậu cửa, ông trông thấy người nhưng nhìn chưa rõ mặt. Nhận ra tiếng nói quen thuộc ông lên tiếng:
        - Trời sắp tối đến nơi rồi, có việc chi gấp mà thầy đến đây, thật là tôi hỏi khí không phải mong thầy thứ lỗi.
        - Thực ra, lâu nay tôi không có điều kiện qua thăm hai bác phần vì công việc ngày hai buổi phần thì tối đến có vài đứa học trò đến học nên hôm nay mới có dịp đến thăm hai bác - thầy An vừa nói vừa chỉ tay về phía Hạnh đang loay hoay viết viết vẽ vẽ gì đó đầu hiên nhà mà khi thầy vào nó cũng không để ý.
        - Hạnh, trời tối rồi, vô nhà giúp việc cho ông bà. .
        Tuy không nói ra được nhưng trong lòng Hạnh cảm thấy vui vui vì cậu đoán được việc gì sắp xẩy ra với mình. Thầy An đến đây chắc là vì việc học hành. Trong bếp, nghe câu được câu mất những nội dung đúng như cậu nghĩ. Thầy An nhã ý giúp cậu trong việc học hành kẻo thua bầu kém bạn. Hạnh biết từ nay ngoài những buổi tham gia học trên lớp với bạn bè cậu được thầy An cho phép sang nhà thầy học bởi lớp đã học hơn hai tháng trong lúc cậu chưa  tham gia buổi nào. Nhà cửa chật chội thế mà thầy đã thu xếp  đồng thời sang bàn với ông bà cho cậu học thêm để theo kịp đám bạn bè.
        - Hai thân già này không cưu mang nổi việc học hành của cháu, được thầy mở rộng lòng thương thì thật là phúc cho nó. Nếu không gặp hoàn cảnh nó đâu phải thiệt thòi đến như vậy - tiếng ông cụ nói chỉ đủ ba người nghe.
        Bà cụ cắt lời ông bằng nghẹn ngào yếu ớt:
       - May nhà còn có phúc, thật là trời ở không cao. Cha nó chết sớm, đồng tiền trợ cấp không đáng là bao nhưng chúng tôi cũng không dùng đến. Ông bà và cháu lâu nay kiếm được gì ăn vậy chứ mấy chục đồng bạc chính sách của cha nó ông nhà còn giữ để năm sau cho cháu ăn học.Nay được biết thầy thương nó, cho nó đi học dù đã muộn lại kèm thêm học đêm ở nhà thầy, ơn này hai thân già xin ghi lòng tạc dạ để sau này có phải xuống âm phủ cũng không dám quên – Bà cụ nói như mếu nhưng đầy vẻ kính trọng.
         Thầy An chào từ biệt rồi bước ra khỏi nhà khi bóng đêm bao phủ lên làng xóm. Đi trong đêm tối không đèn nhưng hình như con đường quen thuộc trong óc thầy vẫn sáng vì thầy vừa trút được gánh nặng kể từ lần đầu gặp Hạnh và được biết Hạnh đã mồ côi đang ở cùng ông bà ngoại.
         Người thôn Đoài xã trên nhưng đã dạy vỡ lòng tại thôn Đông gần chục năm trời.không phải là người cùng làng nhưng tất cả mọi việc trong thôn gần như thầy đều biết. Nghề của thầy không được ăn lương như những cô thầy ở trường cấp 1,2 nhưng thầy tận tuỵ với công việc và rất yêu nghề nên ai cũng mến. Các em học trước đây đến nay đã nhiều người trưởng  thành, có người cũng đã là thầy là cô ăn lương nhà nước hẳn hoi nhưng năm nào đến ngày tết cũng không quên ơn thầy giáo cũ - người đã cho họ những con chữ đầu tiên, người đã chỉ bảo cho họ những phép tính đơn giản nhất.
          Một mùa hè trôi qua nhanh chóng. từ một cậu bé đi học muộn nhất lớp Hạnh đã cố gắng học hỏi và sự siêng năng cần cù của cậu đã bù đắp kết quả. Cuối năm học, Hạnh  đứng đầu lớp và được lên lớp 1 trường làng. Không chỉ có thầy An ông bà ngoại mà cả làng mừng cho Hạnh, một học sinh hoàn cảnh vượt khó.
         Những ngày học lớp 1 trường làng em đã có thêm nhiều bạn mới, thêm nhiều niềm vui mới. Điều đó đã thôi thúc cậu vươn tới đỉnh cao của kết quả, học kì 1 kết thúc cũng đồng thời là niềm vui chung của toàn trường. Với kết quả qua kì thi khảo sát học sinh giỏi, cô giáo Lan đưa cậu tới phòng hiệu trưởng, căn phòng cũng chưa có gì sang trang chỉ có một bộ bàn ghế cũ bên cạnh cái tủ  xiêu vẹo được giữ lại trong thời kỳ chiến tranh ác liệt. Hạnh theo bước cô Lan vào  không biết sắp tới điều gì sẽ xảy ra với mình đầu óc cậu nóng ran.
        Qua hồi lâu bàn bạc, cô hiệu trưởng gọi cậu tới phòng hội đồng. Cô đưa cho cậu mấy bài tập toán và bài tập ngữ pháp với một đề văn miêu tả. Trước lúc bước ra khỏi phòng, cô nói vọng lại chỉ đủ để Hạnh nghe;
        - Lúc nào làm xong tất cả các bài, em báo cho cô.
        Sau hai tiếng miệt mài với những bài tập dễ có khó có, Hạnh xin phép cô về. Trên đường đi, đầu óc cậu suy nghĩ miên man. Mặt trời gần đứng bóng mà cô Lan vẫn đang đứng chờ cậu.
        Làm hết các bài tập không em, tiếng cô hỏi kèm theo nụ cười tin tưởng
       - Dạ em làm xong nhưng không biết kết quả sai hay đúng
       - Hạnh đùa cô phải không, chỉ cần bình tĩnh như thường ngày cô tin em sẽ làm tốt.
        Lẳng lặng cùng cô Lan bước đi trên con đường cái quen thuộc bình thường đi mãi không hết thế mà hôm nay, hai cô trò về đến cổng làng lúc nào không hay. Cô Lan không khỏi bùi ngùi bởi từ nay lớp học vắng hẳn một học sinh ngoan và không kém phần khiêm tốn.
       Cậu học sinh giỏi trường làng như được thổi kiến thức và tiếp thêm sức mạnh tình cảm từ tình yêu thương và trách nhiệm của cộng đồng. Chỉ mới hai năm đến trường, Hạnh  đã học vượt lớp. Hai năm học, cậu đã được đứng vào hàng ngũ của học sinh lớp 3, không những được học lớp ba mà cậu còn là học sinh xuất sắc, là điển hình học sinh giỏi toàn huyện. Từ đây em trở thành niềm mơ ước của nhiều người, của cả hội đồng nhà trường và nhất là cô giáo Lan về thành tích học sinh giỏi cũng như tương lai trước mắt.
         Cô Lan là người thôn Đông lấy chồng về cùng làng thầy An. Cô đã dạy học tại trường cấp 1,2 từ ngày mới ra trường. Cũng như thầy An, cô thuộc trong lòng bàn tay từ đường thôn ngõ xóm đến hoàn cảnh của từng gia đình. Với công việc thường ngày trông cô có vẻ vô tư nhưng thực ra cuộc sống nội tâm cô cũng hết sức dày vò.  Chồng cô đã hi sinh trên chiến trường B những năm 1968 khi Tuyết chưa tròn hai tuổi. Hiện nay cô sống cùng mẹ chồng và con gái đầu lòng đang học lớp 3 nên nỗi buồn của người thiếu phụ luôn luôn xuất hiện trên nét mặt. Hoàn cảnh mình như thế nhưng cô nghĩ tới tương lai của học trò, của đất nước nên từ ngày trực tiếp dạy dỗ Hạnh, cô như được có thêm niềm vui mới. Trong thâm tâm, đã nhiều lần cô có ý định giúp đỡ nhưng chưa có cơ hội. Tuyết, con gái cô nhiều hơn Hạnh 1 tuổi đang theo mẹ học lớp 3 cùng trường. Ngày ngày, Tuyết ngồi sau xe đạp theo mẹ đến trường, học không xuất sắc nhưng em rất chăm chỉ. Ngoài việc đến trường, ngày ngày Tuyết thay mẹ chăm sóc bà nội già yếu. Thương con nhưng vì công việc, cô Lan đành phải chấp nhận những thiệt thòi trên bước đường học tập của con gái.
           Niềm vui được học vượt lớp đến với Hạnh trong lúc bà ngoại mất, em đau khổ bất lực trước hoàn cảnh vì chính  bản thân Hạnh cũng chưa lo nổi cuộc sống thường ngày của mình. Từ nay, ngôi nhà ông bà ngoại lại thiếu đi một phần tình cảm đầm ấm không thể bù đắp nổi . Gần đến ngày kết thúc năm học. Hạnh cùng ông ngoại đến nhà cô Giáo Lan theo ý của ông cụ. Tuyết đã biết Hạnh qua nửa năm học nhưng giờ đây, khi Hạnh và ông ngoại đến cô tỏ vẻ mất bình tĩnh vì xưa nay nhà cô Lan ít khi có khách. Thu xếp những công việc tối thiểu đâu vào đó, Tuyết ra vườn. Khu vườn tuy không lớn  nhưng đủ các loại cây từ rau cỏ đến cây ăn quả. Nhìn màu xanh cây cối trong vườn cũng đủ thấy công lao người chăm bón. Mùa hạ, mới khoảng tám giờ sáng mà không khí đã oi bức khó chịu. Trời không gió, những ngọn tre già trầm ngâm như mong đợi ngọn gió lành mang đến những hạt mưa đầu mùa.
         Hạnh cùng Tuyết ra vườn làm những công việc vặt vãnh trong thời gian chờ đợi. Sau mấy phút tĩnh tâm, Tuyết lên tiếng trước
       - Cậu giỏi thật đấy, lúc đầu nghe mẹ tớ kể về cậu tớ không tin nhưng sau đó những việc mẹ tớ đã nói là hoàn toàn sự thật.
       - Mình cũng không biết nữa, chắc các thầy cô thương hoàn cảnh nên ưu tiên cho mình thôi. Tuy nhiên mỗi khi nhận được sự ưu ái của mọi người, mình sẽ cố gắng.
      Tuyết hơn Hạnh một tuổi, cô chỉ thiếu hơn đám bạn bè trong xóm là tình cảm một người cha. Thực chất, cô nghe bà và mẹ kể về cha chứ cô đâu có biết cha mình như thế nào, chỉ biết mặt qua bức ảnh duy nhất mà mẹ cô đặt trên bàn thờ. Chân dung người đàn ông hiền từ phúc hậu và không kém phần cương nghị. Tuyết từng nghĩ phải học giỏi để làm mẹ vui lòng, có như vậy mới làm nguôi ngoai những đêm dài buồn vắng mà gần chục năm nay mẹ cô phải chịu đựng.
       Một mùa hè nữa trôi qua và năm học mới đã đến. Sau ngày cùng ông lên chơi nhà cô Lan, Hạnh đã thấu hiểu về trách nhiệm của ông ngoại. Sau ngày bà mất, để cho Hạnh có điều kiện học tập, ông đã nhờ cô Lan giúp đỡ và  cô Lan không giấu nổi vui mừng khi có được lòng tin từ những con người ở quê nhà . Hơn thế nữa, Tuyết tuy học khá nhưng không thông minh sáng suốt như Hạnh nên việc Hạnh sang nhà cô cùng Tuyết học đã đưa đến một nềm vui mới. Và cũng từ đây căn nhà ấm cúng hơn vững chải hơn.
       Suốt mấy năm học cấp 2, Hạnh không năm nào không đứng trong tốp đầu học sinh giỏi toàn huyện. Học hành ăn ở bên nhà cô Lan song tuần lễ nào Hạnh cũng xin phép cô và bà nội Tuyết để hai đứa được về thăm ông ngoại. Năm vài ba lần có cô Lan đi cùng và cũng chính sự đi lại thân thiện của hai gia đình nên ông ngoại Hạnh có phần đỡ lo lắng .
         Thời gian thấm thoắt thoi đưa, Chẳng mấy chốc Hạnh cũng đã trưởng thành em cao lớn hơn cả đám bạn bè cùng trang lứa. Hạnh không chỉ lớn về thể chất mà trí tuệ và tâm hồn cũng được thay đổi theo dòng thời gian. Trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, được sự giúp đỡ, dìu dắt của nhà trường và sự chăm lo không khác gì con của gia đình cô Lan. Sau khi tốt nghiệp cấp 3, Hạnh thi đậu vào trường đại học nông nghiệp theo ý của ông. Vì hoàn cảnh ông ngoại một mình côi cút tuổi già nên chính cô Lan đã ngỏ ý với Hạnh như thế. Ngày Hạnh lên đường trong bữa liên hoan tại nhà cô giáo Lan, ông không khỏi rơi nước mắt vì nghĩa cử cao đẹp; cô trả lại số tiền ông đã cất giữ hàng chục năm trời để nuôi cháu ăn học kèm theo lời động viên và mong ước ông được bình an trong cảnh già.
          - Ông giữ lấy mà dùng khi cần thiết, cháu ngoại của ông hiện nay chính thức đã là người nhà nước, có chế độ hẳn hoi. Còn ông tuổi cao sức yếu, người già như ngọn đèn hết dầu cháy leo lét trong đêm nên ông cứ giữ lấy mà dùng. Trong quá trình học ngoài phụ cấp hàng tháng nếu thiếu tôi sẽ tự lo liệu bởi ít ra tôi cũng có đồng lương hàng tháng. Mặt khác ngoài việc lên lớp gia đình tôi còn có ruộng có vườn không vất vả lắm đâu - Cô Lan vừa nói vừa cười như để giấu đi nỗi lo lắng cho những tháng ngày sắp tới bởi không lâu nữa Tuyết cũng sẽ đi học.
        - Quả đúng như dự định của cô, sau hơn một tháng Hạnh lên đường, Tuyết nhận được giấy gọi nhập học. Tốt nghiệp cấp 3, Tuyết cũng chiều ý mẹ cùng bà, cô thi vào trường đại học sư phạm. Trong nỗi buồn có niềm vui, Tuyết không đậu đại học nhưng cô lại có giấy gọi nhập học từ một trường cao đẳng sư phạm. Như vậy hàng tháng cô có thể về nhà thăm bà thăm mẹ chứ đâu phải một năm chỉ về được vài lần trong dịp nghỉ hè hay lễ tết.
         Hạnh và Tuyết đi học, ở nhà những ngày chủ nhật, cô Lan tranh thủ ghé thăm ông ngoại của Hạnh và cứ như vậy tình cảm hai gia đình không cật ruột nhưng trở nên đậm đà thắm thiết. Không riêng gì cô giáo Lan, ông già cũng một tháng đôi lần đáp lễ. tuổi cao có bạn nói chuyện giải khuây cũng đỡ buồn. Chính bà nội Tuyết cũng bằng lòng và cảm thấy thoải mái hơn, thảnh thơi hơn khi nhà có khách, những ngày gia đình cô Lan có việc không bao giờ vắng mặt ông . Sự mẫn cán và thông cảm  trong quan hệ của hai gia đình làng trong xóm ngoài đều biết. Đặc biệt tấm lòng tốt của gia đình cô Lan như một tiếng thơm lan toả  cả một vùng thấm vào lòng người như một khúc dân ca sâu nặng tình người, tình quê ai cũng quen thuộc.
          Sau ba năm học, Hạnh về huyện nhà thực tâp tại phòng nông nghiệp. Ngày ngày, cậu làm việc tại cơ quan, cũng có những ngày anh phải vất vả trên đồng ruộng hoặc trong các trại chăn nuôi. Công việc đã mang lại niềm vui cho Hạnh bởi bước đầu anh đã có những sáng tạo cống hiến cho ngành nông nghiệp huyện nhất là về kỷ thuật chăn nuôi cá trên các mặt hồ nước ngọt. Chỉ sau 2 tháng, Hạnh đã xây dựng được trên 10 cơ sở có mặt hồ nuôi cá. Tuy chưa có kết quả cụ thể nhưng với cách triển khai kế hoạch và tuyên truyền kỷ thuật, uy tín anh đã vang khắp cả một vùng quê. Phòng nông nghiệp huyện đang cần những con người có năng lực và tận tuỵ với công việc như ạnh. Mưa nắng, sớm chiều anh cưỡi trên chiếc xe đạp cơ quan đã cũ kỹ có mặt trên khắp các nẻo đường thôn xóm. Cho dù bộn bề trăm công ngàn việc nhưng ngày nào anh cũng có mặt ở hai nhà. Nhìn Hạnh khổ sở đẩy chiếc xe cũ nát vào cửa, cô Lan lên tiếng:
        - Anh dùng tạm chiếc xe tôi mua cho Tuyết để ngày ra trường có mà dùng cho đỡ vất vả, anh đi chiếc xe đạp cọc cạch trông khổ sở quá; mà đôi lúc nó hỏng lại lỡ hết công chuyện. Bây giờ cả huyện nhà đang trông chờ và tin tưởng ở anh.
        -  Có nó mà dùng là tốt, xe cũ nhưng hỏng đâu ta sửa đó, qua gian khổ mới có thành công cô ạ - Hạnh nói như để cố ý từ chối ý định của cô Lan
       -  Hôm nay là thứ bảy cuối tháng chắc Tuyết có về thăm bà. Chiều nay sau giờ làm việc, tôi phiền anh lên phố huyện đón Tuyết – Cô Lan Vừa nói vừa nhìn về phía Hạnh
       - Chắc tối nay có bữa xôm rồi - Hạnh vừa nói vừa cười như cố cho cô hiểu ý định của cô vừa được anh chấp nhận.
       Trời nhá nhem tối cũng là lúc mâm cỗ đơm xong. Hôm nay Tuyết về nên mọi công việc nội trợ đều do tay cô làm cả. Bà nội và cô Lan mừng vì mới chỉ sau gần hai năm đi học, Tuyết chững chạc hơn hẳn. Không những trong công việc và ngay cả giao tiếp cô cũng đã thay đổi rất nhiều. Bữa tối đầu tiên trong gia đình ấm cúng hơn khi có mặt đầy đủ mọi người.
       -Trước lúc vào bữa, Hạnh không quên thắp nén hương trên bàn thờ gia tiên có hình bố Tuyết. Không phải lần đầu Hạnh thắp hương trên bàn thờ đã quá đỗi quen thuộc nhưng hôm nay hình như cậu không biết mình nên nói những gì cho người phía bên kia hiểu. Một thoáng lúng túng rồi anh vẫn đứng lặng như trời trồng. Biết ý cô Lan lên tiếng:
         - Anh đã sống trong nhà sáu bảy  năm trời, gia đình tôi mọi người coi anh như cái Tuyết. Anh chỉ cần thắp nén nhang với cả tấm lòng của anh là được
         Hết lúng túng sau lời nói của cô Lan, Hạnh lẩm bẩm mấy câu. Không hiểu anh nói những gì nhưng trông anh vui hẳn lên trong bữa tối. Phải chăng ánh mắt người đàn ông trong ảnh đã nhìn thẳng vào anh đã nhắc nhở anh phải sống một đời người như thế nào cho phải.
                                                                                                                                    Tháng 4 năm 2013
                                                                                                                     Lê Trường 0916 914 338
                                                                                THCS Đồng lộc, Can lộc, Hà tĩnh
 

Tác giả bài viết: Lê Trường

Nguồn tin: THCS Đồng Lộc

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

TIN BÀI MỚI NHẤT

LIÊN KẾT ỨNG DỤNG